Lịch sử hình thành và phát triển Minimize

 SƠ LƯỢC 50 NĂM QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂNTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TDTT HÀ NỘI (1961-2011)

Bối cảnh ra đời :

Năm 1946, một năm sau Cách mạng Tháng 8 thành công, trong lúc nhân dân ta đang ra sức xây dựng nước Việt Nam mới và quyết tâm bảo vệ thành quả cách mạng vừa giành được, Bác Hồ đã cho thành lập ngành TDTT chuẩn bị cho sự hình thành và phát triển nền thể thao Việt Nam.

 Nền thể thao bước đầu hình thành từ năm 1946 còn non trẻ. Mục tiêu chủ yếu của TDTT cách mạng  nhằm phục vụ sức khoẻ nhân dân góp phần xây dựng đất nước Việt Nam mới và bảo vệ thành quả Cách mạng. Mục tiêu ấy thể hiện  tính ưu việt so với nền TDTT trong  xã hội cũ trước  năm 1945.

Tháng 12/1946 thực dân Pháp trở mặt xâm lược nước ta, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Ngay sau đó Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác Hồ lên chiến khu Việt Bắc để lãnh đạo nhân dân kháng chiến. Phong trào TDTT vừa mới được hình thành mấy tháng và đang trên đà phát triển lại tiếp tục đi vào kháng chiến.

Sau hoà bình lập lại 1954, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, tiến hành cách mạng XHCN. Đảng và Nhà nước ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổ chức lại ngành TDTT, khôi phục và phát triển nền TDTT vì dân, vì nước. Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều Chỉ thị, Nghị quyết về công tác TDTT nhằm từng bước kiến tạo một nền TDTT XHCN phát triển mạnh mẽ, cân đối, có tính dân tộc, nhân dân và hiện đại. Bác Hồ luôn chỉ hướng cho TDTT nước ta phục vụ sức khoẻ nhân dân, người mong rằng: “Nhân dân ta ai cũng khỏe thì nước ta mạnh giàu”.

Từ năm 1957 miền Bắc thực hiện kế hoạch 3 năm khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá; thực hiện công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa tư bản tư doanh, xây dựng các hợp tác xã nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Ngành Giáo dục vừa lo đáp ứng nhu cầu học tập to lớn, cấp bách của nhân dân, vừa lo bước đầu xây dựng tiền đề nhà trường XHCN, cải tạo trường tư thục, xây dựng hệ thống trường dân lập. Phải xây dựng trường học thành công cụ của chuyên chính vô sản “pháo đài của XHCN”; nhà trường phải gắn liền với đời sống, với lao động sản xuất và thực tiễn cách mạng nhằm đào tạo những người lao động mới. Trong đó các trường sư phạm phải được xây dựng trở thành những “Trung tâm công nghiệp nặng” của ngành Giáo dục. Giáo sinh tốt nghiệp sư phạm phải trở thành cán bộ chính trị của Đảng, vừa sẵn sàng phục vụ yêu cầu cách mạng, vừa là lực lượng nòng cốt giáo dục văn hoá trong trường, biết hướng dẫn học sinh thí nghiệm, thực hành, lao động sản xuất, hoạt động văn, thể, mỹ… phải có lòng yêu người, yêu học sinh, yêu nghề dạy học…

Chăm lo xây dựng mạng lưới các trường sư phạm đủ sức nhanh chóng đào tạo, bồi dưỡng giáo viên đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển giáo dục về số lượng và từng bước nâng cao chất lượng. Từ  năm 1956 Bộ Giáo dục xây dựng khu sư phạm ở Cầu Giấy. Trường sư phạm cao cấp ở Khu học xá Trung ương (đặt ở Nam Ninh -Trung Quốc) được xây dựng thành trường Đại học sư phạm Hà Nội gồm đủ các khoa, đào tạo 3 năm, tuyển học sinh lớp 9, lớp 10 phổ thông (trong đội ngũ giáo viên của trường Đại học sư phạm Hà Nội có thầy giáo Nguyễn Trương Tuấn giảng dạy môn thể dục); Bộ thành lập 16 trường sư phạm trung cấp liên tỉnh và một số tỉnh lớn đào tạo giáo viên cấp 2 theo hệ 7 + 2. Từ năm 1958 Bộ Giáo dục xây dựng một số trường sư phạm trực thuộc Bộ như trường Sư phạm Mẫu giáo Trung ương, Trường Bồi dưỡng giáo viên cấp I, lớp sư phạm thể dục, lớp nhạc, hoạ.

Năm 1959, lớp thể dục gồm 100 giáo sinh sư phạm được tuyển chọn trong số các giáo sinh đang học tại trường Đại học sư phạm Hà Nội. Thầy Trương Quang Địch cán bộ phòng TDTT của Bộ đã trực tiếp về tuyển chọn. Việc tuyển chọn ban đầu gặp khó khăn vì phần nhiều giáo sinh đang học để trở thành giáo viên giảng dạy văn hoá, nay tuyển sang lớp đào giáo viên thể dục còn rất mới mẻ. Nhưng sau khi được thầy Đỗ Đức Uyên - Bí thư Đảng uỷ quán triệt, động viên, giao nhiệm vụ, lớp đã được biên chế đầy đủ và sẵn sàng học tập. Bộ giao cho Phòng Thể dục thể thao (trực thuộc Văn phòng Bộ) trực tiếp chỉ đạo công tác đào tạo, giảng dạy, huấn luyện. Lực lượng cốt cán của lớp có thầy Lương Ngọc Diễm, là đảng viên và một số cán bộ đoàn thanh niên. Lớp do các chuyên gia Liên Xô trực tiếp giảng dạy, huấn luyện và đã nhanh chóng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, bổ sung lực lượng cán bộ, giáo viên thể dục cho các trường sư phạm. Thầy Lương Ngọc Diễm đã chuyển từ vị hiệu trưởng của một trường cấp I ở Bắc Giang, cùng nhiều thầy cô khác dạy các môn văn hoá, từ đây bước sang một con đường mới, con đường TDTT, giáo dục thể chất và gắn cả cuộc đời với con đường này. Sau khi học xong thầy Lương Ngọc Diễm được điều về Phòng Thể dục thể thao của Bộ Giáo dục công tác. Tại đây Thầy đã gặp được các thầy Trương Quang Địch (cán bộ ngành công an được cử đi học ở Trung Quốc về), thầy Vũ Huyến, Mạnh Chí, Đỗ Hữu Gi … là những người rất tâm huyết với sự nghiệp thể dục thể thao và giáo dục thể chất. Với chức năng nhiệm vụ được giao, các thầy đã cùng nhau suy nghĩ, tìm tòi, tham mưu giúp Bộ để tháo gỡ khó khăn, nhanh chóng đào tạo đội ngũ giáo viên thể dục thể thao đang rất cần và rất thiếu trong các cấp học.

Hoàn thành khóa đào tạo giáo viên thể dục ở trường Đại học sư phạm Hà Nội, Bộ Giáo dục tiếp tục mở lớp thứ hai gồm 90 giáo viên đang dạy cấp 1 và một số học sinh phổ thông chuyển sang đào tạo giáo viên thể dục ở Trung tâm TDTT Quần Ngựa của Uỷ ban TDTT, do thầy Phan Nguôn Đang làm Hiệu trưởng, thầy Nguyễn Tính làm Phó Hiệu trưởng. Thầy Trương Quang Địch và thầy Lương Ngọc Diễm được phân công phụ trách lớp. Lớp do các thầy Thuỳ, thầy Ngô Duy Gia, Vương Bích Nhượng, cô Duyên và các thầy cô khác của Ủy ban TDTT trực tiếp giảng dạy, huấn luyện và đã nhanh chóng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, bổ sung lực lượng cán bộ, giáo viên thể dục cho các trường sư phạm.

 Sau thời gian học 3 tháng những học viên có khả năng như thầy Hoàng Đình Ái, Lê Văn Lý cùng với thầy Đỗ Hữu Gi, thầy Nguyễn Trương Tuấn, thầy Ngô Tư  tiếp tục được chọn mở lớp thứ ba đào tạo giáo viên thể dục tại phân hiệu hai của trường Đại học sư phạm Hà Nội  tại Vinh (sau đó là trường Đại học sư phạm Vinh).

Với ba lần mở lớp, bằng sự nỗ lực của Phòng Thể dục thể thao và sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô, Bộ đã đào tạo được một đội ngũ cán bộ, giáo viên thể dục đầu tiên cho Ngành, trong số cán bộ, giáo viên đó nhiều người đã trở thành những cán bộ cốt cán, những viên gạch hồng vững chắc đầu tiên để xây dựng trường Trung cấp Thể dục thể thao. Đó là các thầy: Trương Quang Địch, Nguyễn Trương Tuấn, Đỗ Hữu Gi, Lương Ngọc Diễm, Ngô Tư, Trần Phan Hiển, Hoàng Đình Ái, Lê Văn Lý, Lê Xuân Cương…

 

*

* *

I. Giai đoạn đào tạo trình độ trung cấp từ 1961 -1980:

1. Thời kỳ: Thành lập Trường Trung cấp Thể dục Thể thao (1961 - 1964).

 

 

Con dấu và chữ ký của

Hiệu trưởng Hoàng Mai Hãn

Hiệu trưởng Hoàng Mai Hãn

Sau quá trình chuẩn bị, tháng 8 năm 1961 Bộ Giáo dục đề nghị Nhà nước ra Quyết định thành lập Trường Trung cấp thể dục thể thao. Trụ sở đóng tại Km 9 + 200 đường Nguyễn Trãi-Thanh Xuân Hà Nội. Trường có nhiệm vụ đào tạo giáo viên cho các trường sư phạm mẫu giáo, sư phạm cấp 1, sư phạm cấp 2. Thời gian đào tạo 2 năm, tuyển học sinh lớp 7 phổ thông.

Lực lượng cán bộ đầu tiên của Trường Trung cấp Thể dục Thể thao gồm các cán bộ, các thầy, cô giáo được điều từ phân hiệu II Đại học sư phạm Hà Nội từ Vinh ra, một số người được điều từ Bộ xuống, từ Trường Trung cấp TDTT Từ  Sơn sang và từ các nơi khác về. Ban đầu chưa hình thành bộ máy, chỉ có cán bộ phụ trách đầu việc, sau đó lực lượng được tăng cường và hình thành dần bộ máy tổ chức. Gồm có:

Bộ máy hành chính:

- Ban Giám hiệu: Thầy Trương Quang Địch-Cán bộ Phòng TDTT Bộ Giáo dục giữ chức vụ Phó Hiệu trưởng; sau 3 tháng thầy Hoàng Mai Hãn-Trưởng Ty Giáo dục Hòa Bình được Bộ điều về giữ chức vụ Hiệu trưởng.

- Phụ trách công tác Tổ chức Hành chính: Thầy Lương Ngọc Diễm-Cán bộ Phòng TDTT. Sau đó do thiếu giáo viên dạy Tâm lý thể thao, Bộ điều Thầy Long về phụ trách. Lực lượng cán bộ gồm: ông Phan Văn Tại , ông Sắc có nhiệm vụ xây dựng, kiến thiết, mua bán vật tư, thiết bị, dụng cụ; ông Hữu, ông Nhiệm có nhiệm vụ phục vụ điện, nước; ông Yến làm văn thư; bà Nhạn đánh máy; bà Liên in rôniô; bà Gián làm lao công tạp vụ, bà Thúy làm thường trực; ông Bảy (người miền Nam) được tin cậy giao nhiệm vụ phục vụ chuyên gia Liên xô.

- Phụ trách Tài vụ: Ông Huỳnh Thành - Kế toán trưởng. Ông Liên-kế toán, Bà Phong-Thủ quỹ.

- Bộ phận Y tế: Ông Nghĩa -Y sỹ, Bà Sứ, ông Cửu-Y tá.

- Bộ phận Nhà ăn : Ông Xuân làm quản lý, ông Điền làm tiếp phẩm ; nấu ăn gồm các bà Lý, bà Khen, bà Xuân, bà Hồng, bà Cầu, bà Cốm và một số người nữa...

Các tổ chuyên môn :

 - Phụ trách Tổ Thể dục: Thầy Đỗ Hữu Gi và đội ngũ các thầy cô giáo Lê Gia Tường, Lê Thị Bạch Cát, Lê Thị Hồng Phượng, Chu Phương Huệ, Trần Nhật Thăng, Trịnh Thị Ngọc Chân.

- Phụ trách tổ Điền kinh: Thầy Vương Tải Minh và đội ngũ các thầy cô giáo Lê Văn Lý, Hoành Đình ái, Trịnh lâm, Dương Thị Bốn, Mạc Thúy Cần, Nguyễn Văn Vỹ, Lê Văn Đệ, Nguyễn Đình Thảo, Nguyễn Đình Huynh.

- Phụ trách tổ Thể thao (các môn bóng, võ, bơi, bắn): Thầy Nguyễn Trương Tuấn và đội ngũ các thầy cô giáo Trần Phan Hiển, Vũ Đức Thu, Hoàng Thạch Tâm, Đới Văn Minh, Võ Lương và 2 giáo viên dạy môn Võ và Bóng rổ.

- Phụ trách tổ Lý luận cơ sở: Thầy Lương Ngọc Diễm dạy tâm lý TDTT và đội ngũ các thầy cô giáo Nguyễn Văn Hiệu dạy môn Mác Lê nin, Nguyễn Huy Bích dạy sinh lý TDTT.

- Cán bộ phiên dịch: Ông Nguyễn Mạnh Hùng, ông Huỳnh và các giáo viên dạy tiếng Nga gồm: Thầy Trần Mạnh Tô, thầy Hào, cô Dung.

- Giáo viên dạy văn hóa gồm: Thầy Điệp dạy toán, lý, cô Mai Lan dạy hóa và các cô khác dạy sinh vật.

Tổ chức đảng và các đoàn thể.

Chi bộ cơ sở:

- Nhiệm kỳ 1 (1961-1962): Gồm có

1. Đồng chí: Ngô Tư

 Bí thư

2 Đồng chí: Lương Ngọc Diễm

Phó Bí thư

3. Đồng chí: Nguyễn Văn Hiệu

Chi ủy viên

4. Đồng chí Nhỡn (học sinh)

Chi ủy viên

- Nhiệm kỳ II (1962-1963): Gồm có

1. Đồng chí: Hoàng Mai Hãn

 Bí thư

2 Đồng chí: Lương Ngọc Diễm

Phó Bí thư

3. Đồng chí: Nguyễn Văn Hiệu

Chi ủy viên

4. Đồng chí Huỳnh Thành

Chi ủy viên

5. Đồng chí Nhỡn (học sinh)

Chi ủy viên

Ban chấp hành Công đoàn:

- Nhiệm kỳ I và II (1961-1963): gồm 3 đồng chí

1. Ông Nguyễn Văn Hiệu

 Thư ký

2 Ông Đỗ Hữu Gi

ủy viên

3. Ông Cửu Sứ

ủy viên

Ban chấp hành Đoàn trường:

- Nhiệm kỳ I và II (1961-1963):  gồm 5 đồng chí

1. Đồng chí Lê Xuân Cường

 Bí thư

2. Đồng chí Lê Văn Lý

Ủy viên

3. Và 3 sinh viên

Ủy viên

Ban Nữ công: Bà Khen làm trưởng ban.

Trung đội tự vệ:

1. Ngô Tư-Trung đội trưởng

2. Lương Ngọc Diễm-Chính trị viên

Cơ sở vật chất.

Cũng như các trường khác mới được thành lập hồi đó, cơ sơ vật chất của trường rất nghèo nàn, ngoài 3 toà nhà 3 tầng được xây từ năm 1958 để lại, còn lại là những bãi đất trống bên cạnh các ruộng, ao bèo, không có sân bãi, không có nhà tập thể dục, chỗ ở của giáo viên, cán bộ phải dồn ghép nhiều người trong một phòng…  phương tiện giảng dạy, học tập quá thiếu thốn, tài liệu sách báo quá nghèo nàn hầu như tất cả đều từ số không… Vì vậy, để chuẩn bị khai giảng khoá học đầu tiên, các đồng chí cán bộ chủ chốt, các đồng chí đảng viên và nhiều đồng chí khác phải có mặt ngay từ  ngày đầu để làm công tác chuẩn bị các điều kiện tối thiểu, cần thiết nhất phục vụ cho dạy và học nơi ăn ở, sinh hoạt của giáo viên và học sinh. Sau hơn 2 tháng gấp rút làm đường, làm sân bãi, tháng 10 năm 1961 Trường Trung cấp Thể dục thể thao đã tuyển sinh khoá 1 được 100 học sinh (70 nam và 30 nữ)

Khoá học đầu tiên.

Ngày 15/10/1961 ngày khai giảng đầu tiên khai sinh mái trường thân yêu của chúng ta. Lời phát biểu, cũng là lời tuyên ngôn thành lập trường của thầy Phó Hiệu trưởng đầu tiên Trương Quang Địch, hùng hồn, thuyết phục. Lời tuyên ngôn ấy ngay lập tức chuyển thành sức mạnh tinh thần, bùng cháy bằng lời hứa quyết tâm thi đua hoàn thành nhiệm vụ của Thầy Đỗ Hữu Di, hoà quyện với tiếng hô đi đều bước 1 - 2, ba khối học sinh trong ba sắc mầu đồng phục Đỏ - Xanh - Vàng rầm rập, tăm tắp bước qua lễ đài hùng dũng, tràn đầy khí thế, tràn đầy sức mạnh của tuổi trẻ. Dấu ấn đó mãi mãi còn in đậm trong lòng nhân dân xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội), nơi đã chứng kiến sự ra đời của một mái trường đầu tiên của miền Bắc XHCN, có nhiệm vụ đào tạo lực lượng cán bộ, giáo viên làm công tác TDTT nói chung và công tác giáo dục thể chất nói riêng. Dấu ấn ấy là một mốc son lịch sử đánh dấu cho sự khởi đầu của sự nghiệp  giáo dục thể chất hôm nay.

Sau ngày khai giảng đáng nhớ ấy là không khí học tập và rèn luyện say mê của cả thầy và trò. Ban ngày học chuyên môn, ban đêm học văn hoá, thầy trò quây quần bên nhau trong buổi tối thứ năm hàng tuần sinh hoạt câu lạc bộ, tổ chức bình điểm thi đua, đánh giá kết quả học tập, giảng dạy trong buổi chào cờ sáng thứ 2 đầu tuần; tập luyện dưới nắng hè giành Giải nhất Hội thao lực lượng tự vệ thành phố Hà Nội năm 1962…

Công tác quản lý giáo dục học sinh được đặc biệt chú ý, phương châm giáo dục  nhà trường gắn liền với xã hội; đào tạo gắn với thực tế lao động sản xuất được Ban Giám hiệu chỉ đạo thực hiện có hiệu quả. Ngoài việc học tập ở trường, thầy và trò đã đi xa hơn 60 km, khai hoang hơn 10ha rừng để trồng sắn, trồng đậu, trồng lúa tại Hòa Bình…. Công tác thực tập sư phạm được lựa chọn, tổ chức ở các tỉnh có truyền thống giáo dục như Hải Dương, Hưng Yên, Hòa Bình để tạo điều kiện tốt nhất cho học sinh tiếp cận thực tiễn.

Với sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô, cùng với sự tận tình dạy dỗ của các thầy, cô, lứa học sinh đầu tiên ấy đã vượt qua khó khăn, vươn lên bằng ý chí, bằng nghị lực và đã trưởng thành, gắn cả cuộc đời với sự nghiệp, đóng góp nhiều công sức dựng xây, làm vẻ vang, rạng rỡ cho ngành cho nghề của chúng ta.

Với sự cố gắng, nỗ lực của tập thể Ban Giám hiệu, của các đồng chí đảng viên và của tập thể cán bộ, giáo viên, học sinh và sự quan tâm chỉ đạo, giúp đỡ của Bộ Giáo dục, của nhân dân địa phương… Trường Trung cấp Thể dục thể thao đã đào tạo liên tục từ năm 1961 đến năm 1963 được hai khoá hơn 200 giáo viên thể dục thể thao.

Có thể nói việc thành lập trường Trung cấp TDTT là một dấu mốc lịch sử. Dấu mốc ban đầu ấy của trường chúng ta thật đáng tự hào và trân trọng, bởi nó được dựng xây bằng cả tâm huyết, trí tuệ, sức lực, ý chí của những con người đã tìm tòi, khai phá, vạch  hướng đi cho con đường đào tạo giáo viên thể dục thể thao, mà tận đến hôm nay dấu ấn còn in đậm mãi, khắc sâu mãi.

Xin trích lời tâm sự của thầy Nguyễn Trương Tuấn - Nguyên cán bộ Phòng TDTT Bộ Giáo dục: “Suy nghĩ về mốc ban đầu của trường chúng tôi không thể nào quên hình ảnh khởi đầu sơ sinh đó và càng nhớ về lớp người đã có mặt chứng kiến điểm xuất phát đó. Cái mốc đó cơ sở vật chất, phương tiện giảng dạy tập luyện, tài liệu sách báo quá thiếu thốn, nghèo nàn, nhưng phẩm chất người thầy, ý thức học tập của trò, trách nhiệm phục vụ của đội ngũ cán bộ công nhân viên quả là một dấu ấn khó phai, nó để lại trong tôi khí phách, tư thế Phù Đổng. Đội ngũ thầy cô giáo chưa đầy 30 người, vừa phải đảm nhiệm giảng dạy lý luận cơ sở lẫn thực hành kỹ thuật vận động các môn: Thể dục, điền kinh và thể thao (các môn bóng, võ…). Chúng tôi chỉ có trình độ trung cấp và tương đương, nhưng đều là những người có năng khiếu, nhiệt tình yêu nghề, cùng nhau đoàn kết, vừa dạy, vừa học, cùng với giáo sinh vừa học, vừa lao động dựng xây trường. Đó là những thanh niên của thế hệ “Ba bất kỳ” (Bất kỳ đi đâu - Bất kỳ làm việc gì - Bất kỳ đãi ngộ nào). Lớp giáo viên của mốc ban đầu thế kỷ trước là thế đấy… Họ đáng được trân trọng, ghi vào trang sử của trường, bởi Họ đã làm đúng như lời Bác dạy “Đó cũng là công tác trong những công tác cách mạng khác”

Nghĩ về những ngày đầu tiên ấy, không thể quên ơn thầy Bí thư Đảng uỷ, Phó Hiệu trưởng Trương Quang Địch, người đã có công sáng lập Trường Trung cấp Thể dục thể thao .

Nghĩ về những ngày đầu tiên ấy càng nhớ đến thầy Đỗ Hữu Gi, một người thầy giáo mẫu mực sư phạm, hết mực quý mến, trân trọng đồng nghiệp, yêu thương học sinh, một lòng tận tuỵ phục vụ, cống hiến quên cả thân mình cho sự nghiệp.

Chi viện cho tuyền tuyến lớn. ( 1963 - 1967)

Thực hiện Chỉ thị 05/TTg của Thủ tướng Chính phủ, chuyển hướng hoạt động TDTT trong thời kỳ chống Mỹ, nên giai đoạn từ tháng 8 năm 1963 đến cuối năm 1966 nhà trường tạm ngừng đào tạo. Năm 1963, trường Trung cấp thể dục thể thao được sáp nhập với trường Trung cấp thể dục thể thao Từ sơn. Nhiều giáo viên được phân công về giảng dạy ở các trường phổ thông, đại học, trung học chuyên nghiệp, các thầy Hoàng Đình Ái,  Lê Văn Lý, Trịnh Sâm, cô Lê Thị Bạch Cát... được điều động sang công tác ở trường TC TDTT Từ Sơn.

Sau đó nhiều thầy giáo, cô giáo đã xung phong vào phục vụ chiến trường miền Nam, họ đều đã anh dũng chiến đấu, hy sinh, lập được nhiều chiến công xuất sắc, đóng góp vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, có người đã không còn được chứng kiến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng..

Thật vinh dự và tự hào về cô giáo Lê thị Bạch Cát đã anh dũng hi sinh trong chiến dịch Mậu Thân 1968, được đề nghị  Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng LLVT”.

2. Thời kỳ: Trường Sư phạm thể dục Trung ương  (1967 - 1970)

 

Con dấu và chữ ký của

Hiệu trưởng Nguyễn Văn Thích

Hiệu trưởng Nguyễn Văn Thích

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III năm 1960, nhấn mạnh mục tiêu giáo dục, đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện về đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục và kỹ thuật tổng hợp để cung cấp nguồn lực cho công cuộc kiến thiết xây dựng XHCN ở Miền Bắc và  sự nghiệp đấu tranh giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước. Nhận thức rõ vị trí, vai trò của giáo dục thể chất đối với công tác giáo dục thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên. Đứng trước tình hình và nhiệm vụ mới tháng 6 năm 1967 Chính phủ ra quyết định tái thành lập Trường Trung cấp TDTT với tên gọi: Trường Sư phạm Thể dục Trung ương.

Mục tiêu đào tạo ban đầu được xác định là: Đào tạo giáo viên thể dục kiêm dạy vệ sinh trường học và làm công tác y tế học đường. Sau thời gian thử nghiệm Ban Giám hiệu xác định tập trung mục tiêu đào tạo giáo viên thể dục thể thao. Tuyển sinh và đào tạo hệ 7 + 2; 7 + 3 đến năm 1971 hệ 10 + 3.

Tuy nhiên, giai đoạn này đế quốc Mỹ tăng cường leo thang bắn phá ném bom miền Bắc, mà mục tiêu trọng điểm của chúng là các nhà máy, xí nghiệp, trường học, nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam, phá hoại công cuộc xây dựng CNXH ở Miền Bắc. Trong bộn bề khó khăn, khắc nghiệt của chiến tranh. vì vậy, Trường phải tìm nơi khác để sơ tán, tránh sự bắn phá của địch. Việc tìm ra một địa điểm thích hợp cho nhiệm vụ vừa chiến đấu chống chiến tranh phát hoại của đế quốc Mỹ, vừa đào tạo cán bộ cho đất nước là một vấn đề hết sức nan giải. Nhiều đồng chí được Bộ cử đi tìm địa điểm mới để xây dựng trường. Sau khi khảo sát một số địa điểm, Bộ quyết định Trường đóng trên đất thuộc xã Phụng Châu, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, trên một khu đất do các trường Học sinh miền Nam để lại.

Các thầy Nguyễn Văn Thích - Hiệu trưởng, thầy Trương Quang Địch - Bí thư Đảng uỷ, thầy Hoàng Đình Ái, Đỗ Hữu Di, Lê Gia Tường và một số cán bộ được tăng cường từ các ngành khác như ông Hoàng Thanh, ông Thành bác sỹ, ông Hương tổ chức, ông Phước hành chính quản trị... là những người có mặt đầu tiên để tái lập trường cùng với  một số cán bộ CNV của 4 trường Học sinh Miền Nam được giữ lại (Ông Thể thợ điện, Bà Cả, Ông Lợi, Ông Cẩn, Ô. Chức, Ô Thý…., một số cán bộ của trường Bổ túc Công nông từ Đông Triều - Quảng Ninh về (Bà Na, Ông Hương, Bà Bốn, Ông Y, Bà Cõn, Bà Lý và một đội ngũ giáo viên trẻ vừa tốt nghiệp  khoá 1, khoá 2 của trường Thể dục Thể thao Từ Sơn - Hà Bắc (Thầy Tế, Thầy Soại, Thầy Cường, Cô Hường, Thầy Nhi, Thầy Nam, Thầy Đông Anh, Thầy Bằng, Thầy Tiếp, Thầy Hiệu, Thầy Phùng, Thầy Thi, Thầy Vân, Cô Đào, Thầy Dự, Thầy ánh…

Cơ cấu tổ chức.

Ban Giám hiệu:

+Thầy Nguyễn Văn Thích Hiệu trưởng

+ Thầy Trương Quang Địch - Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng

Các phòng, ban:

+ Phòng Tổ chức: Do Ông Hương làm trưởng phòng, sau đó là Ông Trần Sâm

+ Phòng Hành chính - Quản trị: Do Ông Trần Phức làm trưởng phòng, sau đó Ông Lương Ngọc Diễm làm trưởng phòng từ năm 1972 - 1979.

+ Phòng Giáo vụ: Do Ông Phác làm trưởng phòng.

+ Phòng Y tế do Ông Bính làm trưởng phòng

+ Tổ Tài vụ do Ông Phan làm tổ trưởng

Chuyên môn:

+ Hệ Thể dục

+ Hệ Âm nhạc

+ Hệ Hội hoạ

Hệ thống chính trị

Đảng uỷ

+ Đ/c Trương Quang Địch - Bí thư ĐU

+ Đ/c Phan Hương           - P Bí thư.

+ Đ/c Thanh                     - Đảng uỷ viên

+ Đ/c   Hài                       - Đảng ủy viên (GV chính trị)

+ Đ/c Thành           - Đảng ủy viên (GV Sinh vật)

Chi uỷ:

+ Chi bộ cơ quan: Đ/c Phan Hương - P Bí thư

+ Chi bộ Giáo viên: Đ/c Lương Ngọc Diễm - P Bí thư

+ Chi bộ Âm nhạc:                                     - P Bí thư

+ Chi bộ Hội hoạ: Đ/c Thanh Minh            - PBí thư sau đó Đ/c Lê Anh Minh thay.

- Công đoàn: Đ/c Hân Chủ tịch công đoàn trường đến năm 1979 đồng chí Lương Ngọc Diễm làm Chủ tịch công đoàn.

- Đoàn thanh niên: Đ/c Khá; Thư; Thông.

Cơ sở vật chất

Cơ ngơi tuềnh toàng, tạm bợ với 3 dẫy nhà của trường học sinh miềm Nam để lại làm khu Hiệu bộ và lớp học, mấy dẫy nhà cấp 4 dột nát làm  nơi ở cho thầy và trò. Mọi bề thiếu thốn. Thầy và trò bắt đầu những tháng ngày vừa dựng trường mới vừa đào hào chiến đấu. Với quyết tâm vượt qua khó khăn, bằng sự nỗ lực vượt bậc, chỉ trong một thời gian ngắn hàng trăm mét khối gỗ được đưa từ Đồng Quan về, hàng ngàn cây tre, nứa được chuyển từ Hoà Bình xuống... Bằng sức lao động cần cù và sáng tạo, với bàn tay khéo léo của những người vừa thày vừa thợ, lấy xương tre làm gạch, lấy rơm bùn làm vôi vữa, lấy chân trộn đất làm bê tông, lấy tay làm bàn xoa, bay trát... ngôi trường đã dần được hiện lên những dẫy nhà gỗ, mái lá, vách nứa, phên tre, tạm đủ chỗ cho hơn 200 CB - GV - CNV và học sinh khoá 2, khoá 3 của trường (hai khoá này đào tạo hệ 7 + 2). Sân tập luyện điền kinh, thể dục chung nhau, đường chạy chỉ đạt 360 m được làm tạm bằng xỉ than và đất đồi. Hơn 20 năm khó khăn vất vả, nước ăn, uống, tắm giặt phải bơm hoặc dùng thuyền nhôm chở từ sông đáy về, đánh phèn; lương thực, thực phẩm khan hiếm phải trồng thêm rau, nuôi thêm lợn, bò để cải thiện; cơm ngô, gạo sấy, mỳ bo bo, nắp hầm… đã góp phần đào tạo được hơn 20 khoá học. Sao lúc khó khăn lại lắm gió bão đến thế, năm nào cũng vậy cứ đến mùa tháng 5 là bão lại liên tiếp ập về làm đổ cây, đổ nhà, tốc mái, ngập đường. Trong cơn giông thầy trò phải cầm tay nhau nằm đè trên mái nhà, sau cơn bão lại phải mất mấy ngày liền để thu dọn… khó khăn triền miên tưởng chừng không trụ nổi. Khó khăn của thời bao cấp đã chi phối không ít sức lực của thầy và trò, bởi vậy phần nào ảnh hưởng đến kết quả đào tạo. Khó khăn ấy mãi tới những  năm 1990 mới có điều kiện để khắc phục dần và làm lại chính quy như bây giờ.

Kết quả đào tạo

Khoá 2 ra trường, đã kịp thời cung cấp cho các trường học của miền Bắc XHCN gần 100 giáo viên. Trường bắt đầu đi vào hoạt động tương đối ổn định, tuyển sinh khoá 4 được hơn 100 học viên hệ 10 + 3, hệ đào tạo giáo viên trung học thể dục đầu tiên sau 2 năm bị gián đoạn

Sau khi ổn định, năm 1968 Bộ Giáo dục giao cho trường thêm nhiệm vụ đào tạo giáo viên Âm nhạc và năm 1970 giao thêm nhiệm vụ đào tạo giáo viên Hội hoạ. Từ năm 1968-1970 trường có thêm 2 phân hiệu: Phân hiệu Âm nhạc, Phân hiệu Hội Họa.

Trong thời kỳ này Trường Sư phạm trung cấp Thể dục thể thao với sự tham gia trực tiếp của thầy Lượng và thầy Nguyễn Mậu Loan và một số thầy, cô khác đã góp phần cùng Vụ Thể dục -Vệ sinh tổ chức nghiên cứu chỉ số phát triển con người Việt Nam ở mỗi giới tính và từng lứa tuổi. Công trình nghiên cứu đã đem lại những kết quả quan trọng để đề ra kế hoạch, chiến lược về công tác giáo dục thể chất và phát triển tầm vóc con người Việt Nam.

3. Thời kỳ: Trường Sư phạm Thể dục - Nhạc - Họa Trung ương (1970 - 1980 )

Con dấu của trường và chữ ký của P. Hiệu trưởng Nguyễn Nghĩa Nguyên

Hiệu trưởng Trương Đình Nguyên

 

 Năm 1970 tên trường được đổi thành Trường Sư phạm Thể dục Nhạc - Hoạ Trung ương. Trường có nhiệm vụ đào tạo giáo viên Thể dục, đào tạo giáo viên Âm nhạc và đào tạo giáo viên Họa trình độ trung cấp và bồi dưỡng giáo viên phổ thông cấp 1, cấp 2. Nhiệm vụ được giao, thể hiện sự tin tưởng của Đảng của Nhà nước và của Bộ Giáo dục đối với nhà trường, nâng tầm vị trí của nhà trường trong xã hội, đồng thời cũng là một thử thách nặng nề đối với tập thể lãnh đạo và CBGV, CNV, sinh viên trường.

Bộ máy tổ chức

Ban Giám hiệu :

Các Hiệu trưởng: Thầy Nguyễn Văn Thích (1970-1972); Thầy Đỗ Đức Uyên (1972-1973), thầy Trương Đình Nguyên (1973-1979)

Các phó hiệu trưởng: Thầy Trương Quang Địch kiêm Bí thư Đảng ủy; thầy Nguyễn Nghĩa Nguyên; thầy Trịnh Thiệp; Nhạc sĩ Tô Vũ và thầy Đậu Mạnh Tường .

Các phòng ban

Giúp việc cho Ban Giám hiệu có phòng Giáo vụ do ông Trần Văn Phác làm trưởng phòng; Phòng tổ chức do ông Trần Sâm phụ trách. Phòng Hành chính Quản trị do ông Lương Ngọc Diễm làm trưởng phòng, Ông Hoàng Ngọc Phổ làm phó trưởng phòng. Tổ Tài vụ do ông Nguyễn Ngọc Phan làm tổ trưởng. Ngoài ra, nhà trường còn có Ban chủ nhiệm nhà ăn do ông Bùi Như Ngạn làm Chủ nhiệm và 40 cán bộ cấp dưỡng, tiếp phẩm; một tiểu đoàn tự vệ do Hiệu trưởng trực tiếp chỉ huy.

Năm học 1974 - 1975, Giáo dục quốc phòng được chính thức đưa vào giảng dạy, trường thành lập thêm Tổ giáo viên quân sự gồm 04 cán bộ do trung úy Nông Văn Bủng làm Tổ trưởng.

Các hệ chuyên môn:

Trường có 3 hệ: Hệ Thể dục, thầy Đỗ Hữu Gi làm hệ trưởng; Hệ Âm nhạc, thầy Nguyễn Nghĩa Nguyên làm Hệ trưởng (từ năm 1974 thầy, Phạm Ngữ làm Hệ trưởng); Hệ Hoạ thầy Trịnh Thiệp kiêm Hệ trưởng (từ năm 1974, ông Lê Anh Minh làm Hệ trưởng).

 Tổ chức Đảng và Các tổ chức đoàn thể:

Tổ chức Đảng, Công đoàn, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh cũng được kiện toàn và hoạt động có hiệu quả. Công đoàn trường do ông Nguyễn Văn Hân làm Chủ tịch, bà Võ Thị Tường Vy làm thư ký; sau đó ông Lương ngọc Diễm và ông Trịnh Hữu Thất làm Chủ tịch Công đoàn trường; Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh do ông Hoàng Đức Thông (sau đó là các ông: Đoàn Quốc Tề, Hoàng Lân) làm Bí thư.

Cơ sở vật chất:

Trong điều kiện vừa mới tạm ổn định, nhưng khó khăn vẫn còn chồng chất: Nhà ở, nhà làm việc đã thiếu, đã nát nay lại phải chia cho 3, cả trường có một chiếc máy kéo “TắcTơ”, một chiếc ô tô MôNô chở được 3 tấn nay lại phải cõng lương thực, thực phẩm, than gạo, củi, muối, vật tư gấp 3 lần ... vậy là tất cả, phần nhiều phải nhờ đến bàn tay và đôi vai của con người... Chỗ này san lấp hố bom, đẩy xe chở gỗ, chỗ kia đắp nền, lợp mái, bổ củi nắm than. Chỗ này đập nứa đan phên chỗ kia cuốc đất trồng rau, gánh nước nấu ăn... Khó khăn vất vả là vậy mà cả trường đoàn kết một lòng, thầy trò cùng náo nức thi đua. Không khí học tập, làm việc sôi động. Tiếng hát, tiếng luyện thanh xen lẫn với tiếng đập bóng, tiếng bước chân miệt mài trên bãi tập...Tất cả những hình ảnh, những điều tuyệt vời ấy không chỉ là những kỷ niệm đẹp, mà là vốn quý, là nhựa  sống, là động lực mãnh liệt để vượt qua mọi thử thách, để luôn vững bước trên những chặng đường dài làm nên sự nghiệp hôm nay.

Trận lụt năm 1971, trận lụt lớn nhất từ năm 1945 đến nay lại thêm một thử thách lớn nữa. Đê Phùng bị vỡ, chỉ trong chốc lát nước sông Hồng theo sông Đáy tràn xuống như muốn cuốn phăng đi tất cả. Học sinh và CB, GV, CNV được nhanh chóng đưa lên núi Trầm và núi Ninh Sơn sơ tán. Số đông giáo viên Hệ Thể dục và lực lượng nòng cốt ở lại trường chống lũ. Nước lũ cao ngập đầu người, các thầy Thợi, thầy Soại, thầy Cù Hưng, thầy Tế... chặt chuối làm bè; thầy Bằng, thầy Đông Anh, thầy Tiếp, thầy Hiệu, thầy Cường, thầy Dự... thay nhau tuần tra canh gác sơ tán lợn gà, 7 chiếc thuyền nhôm chở lương thực, thực phẩm cho nơi sơ tán...thật may tất cả đều an toàn. Sau cơn lũ, mọi thứ thật tan hoang. Phù sa, bùn lấp đầy khắp nơi, nước xoáy làm xói nền, đổ nhà, tường đất sụt lở, gió bão làm tốc hết mái nhà... phải mấy tháng sau mới khôi phục được.

Năm 1972, đế quốc Mỹ phá hoại hiệp định Pari, dùng máy bay đánh phá Miền Bắc nước ta để cứu vãn cho cục diện thua to ở chiến trường Miền Nam, hòng biến thủ đô Hà Nội trở về thời kỳ đồ đá? Cùng với quân, dân Thủ đô và cả nước, chúng ta quyết chiến đấu với kẻ thù, nhiều cán bộ, giáo viên và sinh viên nhà trường đã lên đường nhập ngũ, 17 sinh viên người dân tộc thiểu số con em miền Nam đã tình nguyện xin vào Nam chiến đấu. Toàn trường bắt đầu bước vào một trận chiến mới. Ngày đêm đào hầm, đào hào, ngụy trang trường lớp. Hệ thể dục sơ tán một bộ phận lên phía Bắc (Trại Tằm cách trường hiện nay 4 km), bãi tập được làm giã chiến dưới Trại vải, một số nhà được tháo ra, chuyển ngược dòng sông Đáy đến nơi sơ tán làm nơi làm việc, cán bộ, học sinh ở nhờ nhà dân. Hệ Hoạ và Nhạc sơ tán lên phía Tây cách trường 9 km (Gốt - Xuân Mai), ở nhờ nhân dân địa phương để dạy và học. Lớp học sinh học giỏi và có nhiều đóng góp ngày ấy nhiều người được giữ lại làm giáo viên của trường như: thầy Đặng Hùng Mạnh, thầy Trần Hữu Truyền, cô Bùi Thị Lấn, Lê Minh Hường, Nguyễn Đình Cường, Doãn Hải, Võ Nga, Trần Hoàng...

30/4/1975 Miền Nam hoàn toàn giải phóng, cả nước thống nhất, non sông thu về một mối. Trong niềm vui chung của ngày chiến thắng, nhiều cán bộ CNV, giáo viên là người Miền Nam đã được đoàn tụ cùng gia đình sau hơn 30 năm xa cách. Một số thầy cô được điều động chi viện cho miền nam sau ngày giải phóng như thầy Vân, Cô Đào, thầy Thái, Cô Lợi, Thầy Dũng... nhiều người là lãnh đạo chủ chốt của trường CĐSP Thể dục Trung ương 2 (nay là trường Đại học sư phạm TDTT Thành phố Hồ Chí Minh) như thầy Hiệu trưởng Trịnh Trung Hiếu, thầy Trần Đức Dũng - Bí thư Đảng uỷ...

Kết quả đào tạo:

Bắt đầu từ năm học 1971 - 1972, Nhà trường tuyển sinh khóa thể dục đầu tiên đào tạo theo hệ sư phạm 10 + 3 (năm học 1972 - 1973 đối với Nhạc - Họa). Để nhanh chóng có đội ngũ đảm bảo, đáp ứng được yêu cầu đào tạo, và đào tạo có chất lượng tốt, Đảng ủy, Ban Giám hiệu đã tập trung chỉ đạo xây dựng chính sách ưu đãi, thu hút những giáo viên có tài năng và kinh nghiệm về trường, tạo điều kiện cho cán bộ, giáo viên học tập, bồi dưỡng, nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu phát triển của Nhà trường.

Bên cạnh đó, Nhà trường xác định phải tự đào tạo đội ngũ cán bộ giáo viên của mình bằng cách bồi dưỡng giữ lại trường những giáo sinh tốt nghiệp loại giỏi rồi tiếp tục cử đi học tại trường Đại học Thể dục Thể thao (Từ Sơn - Bắc Ninh), trường Âm nhạc Việt Nam, Cao đẳng Mỹ thuật (Hà Nội)... để khi tốt nghiệp về trường công tác và trở thành giáo viên của trường. Mặt khác, trường cũng đề nghị Bộ Giáo dục cử giáo viên đi học ở nước ngoài để nâng cao chất lượng như: cô Nguyễn Thị Đào (học ở Triều Tiên), thầy Đào Ngọc Dũng (học ở Hung Ga ry) ...

Cùng với việc tăng cường đội ngũ giáo viên, quy mô đào tạo của trường cũng không ngừng được mở rộng. Ngoài chỉ tiêu tuyển sinh chính quy, Nhà trường còn mở thêm các lớp bồi dưỡng tại chức. Từ năm 1975 đến 1978, thực hiện chỉ đạo của Bộ Giáo dục, Nhà trường đã mở nhiều lớp bồi dưỡng giáo viên Thể dục, Âm nhạc, Hội họa cho các trường phổ thông, chuyên nghiệp cả nước vào kỳ nghỉ hè.

Trong 10 năm, trường Sư phạm Thể dục - Nhạc - Họa Trung ương đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đào tạo đội ngũ giáo viên Thể dục, Âm nhạc, Hội họa cho sự nghiệp giáo dục nước nhà, Trường đã đào tạo hàng nghìn giáo viên có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm vững vàng, đáp ứng yêu cầu công tác giáo dục thể chất, giáo dục nghệ thuật cho thế hệ trẻ. Từ khi thành lập, ba phân hiệu đã đào tạo giáo viên cho nước bạn Lào gần 20 giáo viên. Sự ra đời và phát triển nhanh chóng của trường Sư phạm Thể dục - Nhạc - Họa Trung ương là một sự kiện quan trọng trong bước phát triển của ngành Giáo dục Việt Nam, là sự tiếp tục khẳng định vị trí của Nhà trường trong xã hội, là bước tiến mới, tích cực góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo con người mới phát triển toàn diện.

 

 

*

* *

II. Giai đoạn đào tạo trình độ cao đẳng ( từ 1981-2003).

 1.Thời kỳ: Trường Cao đẳng Sư phạm Thể dục - Nhạc - Họa Trung ương (1981 - 1985)

Con dấu của Trường và chữ ký của

Hiệu trưởng Quách Hy Dong

Hiệu trưởng Quách Hy Dong

  Để đáp ứng nhu cầu đào tạo đội ngũ giáo viên chuyên ngành sư phạm Thể dục - Sư phạm Âm nhạc - Sư phạm Hội hoạ cho đất nước. Năm 1981 Bộ Giáo dục đề nghị Nhà nước ký quyết định thành lập Trường CĐSP Thể dục - Nhạc - Hoạ Trung ương trên cơ sở từ trường Sư phạm Thể dục - Nhạc - Hoạ Trung ương . Đây là dấu mốc quan trọng sau 20 năm đào tạo ở hệ trung cấp lên hệ cao đẳng, là ngôi trường đầu tiên của ngành giáo dục được thành lập để đào tạo giáo viên chuyên ngành sư phạm Thể dục - Âm nhạc và Hội hoạ cho cả nước.

Bộ máy cơ cấu tổ chức.

Ban Giám hiệu :

Hiệu trưởng: Ông Quách Hy Dong

Các Phó Hiệu trưởng:

Ông: Nguyễn Minh Toàn (1980 -1982);  Ông: Đào Nguyên Tụ (1980 -1982); Ông: Trịnh Hữu Thất (1980 -1982); Ông: Đỗ Hữu Gi (1982 -1985); Ông: Phạm Khắc Học (1983 -1985); Ông: Trần Văn Nghĩa (1983 – 1985).

Các đơn vị chức năng:

- Phòng Tổ chức: Ông Trần Văn Tước - Trưởng phòng

- Phòng Giáo vụ: Ông Nguyễn Viết Hưng - Trưởng phòng

- Phòng Hành chính Tổng hơp: Ông Trần Hoan - Trưởng phòng

- Phòng Quản trị: Ông Trần Hoan làm trưởng phòng, sau đó ông Ngô Mạnh Linh, trưởng phòng kiêm phụ trách tổ quản lý Lưu học sinh Lào - Cam pu chia.

Ngoài 4 phòng trên còn có các tổ như: Tổ Tài vụ, Tổ Tâm lý Giáo dục, Tổ Ngoại ngữ, Tổ Mác - Lê nin, Tổ Quân sự, Trạm Y tế.

Thời kỳ này Nhà trường có 3 khoa:

- Khoa Sư phạm Thể dục: Ông Đỗ Hữu Gi, trưởng khoa.

- Khoa Âm nhạc: Ông Phạm Ngữ, trưởng khoa, sau là ông Đào Ngọc Dũng, trưởng khoa.

- Khoa Hội hoạ: Ông Phạm Hào, trưởng khoa, sau là ông Triệu Khắc Lễ trưởng khoa.

Tổ chức Đảng và các tổ chức đoàn thể:

Ban chấp hành Đảng ủy:

1. Ông Quách Hy Dong                   - Bí thư

2. Ông Nguyễn Minh Toàn             - Phó Bí thư

3. Ông Đào Ngọc Dũng                   - Uỷ viên

4. ÔNg Phạm Văn Nam                  - Uỷ viên

5. Ông Trịnh Hữu Thất                    - Uỷ viên

Tổ chức Công đoàn trường:

- Ông: Nguyễn Văn Hân                  - Chủ tịch công đoàn

- Bà Võ Thị Tường Vy                    - Thư ký công đoàn

 Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh:

- Ông Hoàng Đức Thông, sau đó là ông Đoàn Quốc Tế, ông Hoàng Lân làm Bí thư.

- Ông Lê Minh Hường (1983 – 1986)

Đội ngũ cán bộ giảng viên:

- Tổng số CBGV có 150, trong đó khoa Thể dục có: 55 cán bộ, giáo viên. Trình độ: Chủ yếu là đại học chính quy, chuyên tu tại chức và trung cấp.

Công tác đào tạo:

Năm học 1981 - 1982: Nhà trường chính thức tuyển sinh đào tạo trình độ hệ cao đẳng sư phạm thể dục - sư phạm Âm nhạc và sư phạm Hội hoạ. Trên đà phát triển, với uy tín và vị thế mới, nhà trường đã nhận được sự quan tâm, đánh giá rất lớn của xã hội, vì vậy số lượng đăng ký tuyển sinh vào trường ở cả 3 khoa ngày càng nhiều. Trung bình hàng năm tuyển thêm được 100 - 120 sinh viên Khoa Thể dục, từ 60 - 80 sinh viên Khoa Âm nhạc và Khoa Hội họa. Điều kiện tuyển chọn, chất lượng tuyển chọn đầu vào nâng lên rõ rệt. Quy mô tuyển trung bình cả 3 chuyên ngành: Khoa Sư phạm Âm nhạc, Khoa Sư phạm Hội họa, Khoa Sư phạm Thể dục từ 450 - 500 sinh viên, trong đó có tăng gấp 2 lần các năm trước (không kể 28 lưu học sinh của hai nước Lào và Cămpuchia). Trong 5 năm (1980 - 1985) Nhà trường đã đào tạo được gần 700 giáo viên Thể dục, Âm nhạc, Hội họa. Riêng khoa Sư phạm Thể dục của Trường đã đào tạo được 425 giáo viên chuyên ngành Giáo dục thể chất cho cả đất nước và 14 giáo viên cho nước bạn Lào.

Địa điểm cơ sở vật chất:

- Địa điểm: Thời kỳ này Nhà trường có  hai cơ sở địa điểm

* Cở sở địa điểm 1: Đóng trên địa bàn xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội (thuộc Km 9 + 200 đường Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội). Đây là địa điểm chính của Trường gồm có Ban Giám hiệu, các phòng ban chức năng, các tổ chức đoàn thể và hai  khoa: Sư phạm Âm nhạc và khoa Sư phạm Hội hoạ.

* Cơ sở địa điểm 2: Do Khoa Sư phạm Thể dục, quản lý đóng trên địa bàn xã Phụng Châu, huyện Hoài Đức, Hà Nội (đến năm 1994 xã Phụng Châu cắt chuyển về huyện Chương Mỹ, Hà Tây).

- Về cơ sở vật chất: Do điều kiện đất nước mới thống nhất (30/4/1975) còn gặp nhiều khó khăn, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang phải ra sức hàn gắn những vết thương chiến tranh. Vì những lý do trên nên cơ sở vật chất của Nhà trường nói chung và Khoa sư phạm Thể dục nói riêng còn rất đơn sơ, thiếu thốn. Nhà ở, phòng học chủ yếu là nhà cấp 4, tranh tre, giấy dầu... đơn sơ, tuềnh toàng; sân bãi tập luyện chủ yếu sân đất, không đủ quy cách.

Đời sống của CBGV và sinh viên vô cùng khó khăn, vất vả, thiếu thốn. Hệ thống điện, nước không có, nguồn nước sinh hoạt chủ yếu dùng nước sông Đáy.

2. Thời kỳ: Trường Cao đẳng Sư phạm Thể dục Trung ương số I (1985 -2003)

Con dấu của Trường và chữ ký của

Hiệu trưởng Phạm Khắc Học

PGS.TS. NGUT Hiệu trưởng Phạm Khắc Học

 Sau 10 năm đất nước được thống nhất (1975 - 1985) trước muôn vàn khó khăn thử thách.Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang phải ra sức nỗ lực hàn gắn những vết thương chiến tranh do đế quốc Mỹ để lại, tập trung xây dựng đất nước Việt Nam “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã xác định đây là thời kỳ quan trọng để đưa đất nước ta phát triển, tiến lên, quyết tâm phấn đấu đạt mục tiêu : “Dân giàu, nước mạnh”. Muốn được như vậy, không có cách nào khác là phải đổi mới, thực hiện CNH - HĐH đất nước.

Trong đó có vai trò quan trọng của ngành Giáo dục đào tạo phải tập trung ưu tiên cho
giáo dục đào tạo,  phải coi giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu.

Để đáp ứng mục tiêu nhiệm vụ giáo dục đào tạo đội ngũ CBGV nói chung và CBGV chuyên ngành sư phạm Thể dục - Âm nhạc - Hội hoạ nói riêng cho sự nghiệp phát triển và nhu cầu của xã hội trong thời kỳ mới là rất cần thiết. Chính vì vậy ngày 07/11/1985 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ký Quyết định số 261/QĐ-HĐBT thành lập hai trường Cao đẳng Sư phạm Thể dục Trung ương số I và Trường CĐSP Nhạc - Hoạ Trung ương. Trên cơ sở từ trường Cao đẳng Sư phạm Thể dục - Nhạc -Hoạ Trung ương .

- Trường CĐSP Nhạc Hoạ Trung ương đóng tại địa điểm Km9 + 200 đường Nguyễn Trãi, Thanh Xuân (thuộc xã Tân Triều, Thanh Trì, Hà Nội).

- Trường CĐSP Thể dục Trung ương số I đóng tại địa điểm xã Phụng Châu, huyện Hoài Đức, TP. Hà Nội (đến năm 1994 xã Phụng Châu cắt về huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây).

Ngay sau khi có quyết định thành lập trường CĐSP Thể dục Trung ương số I, Bộ Giáo dục đã có quyết định giao nhiệm vụ cho Nhà trường xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển Nhà trường cả về xây dựng cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, đội CBGV, quy mô đào tạo, chương trình mục tiêu đào tạo đội ngũ CBGV giáo dục thể chất lâu dài cho đất nước.

Đứng trước muôn vàn khó khăn thử thách của một Nhà trường mới được chia tách thành lập, còn rất thiếu thốn, khó khăn về mọi mặt từ cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, đội ngũ CBGV đến xây dựng chương trình, quy mô đào tạo... song các thế hệ lãnh đạo trong Đảng uỷ, Ban Giám hiệu, các đơn vị tổ chức đoàn thể cùng toàn thể đội ngũ CBGV, SV của Nhà trường đã không ngừng nỗ lực, phấn đấu, khắc phục mọi khó khăn thiếu thốn cố gắng phấn đấu từng bước thực hiện tốt các mục tiêu  kế hoạch đã đề ra, bước vào thời kỳ mới ổn định và phát triển về mọi mặt.

Cơ cấu tổ chức bộ máy:

Thời kỳ đầu Ban Giám hiệu chỉ có 3 đồng chí (gồm 1 hiệu trưởng, 2 Phó hiệu trưởng), có năm chỉ có 1 Phó hiệu trưởng (1987 -1988), (1994 - 1999)

Giúp việc Ban Giám hiệu có 3 phòng và 1 tổ Tài vụ, 2 khoa và 5 bộ môn.

Tổ chức Đảng: 3 năm đầu (1985 - 1988) chỉ có chi bộ, đến năm 1989 mới thành lập Đảng Bộ (nhiệm kỳ 1989 -1992), ông Trần Văn Nghĩa được bầu làm Bí thư Đảng ủy, sau là ông Đào Ngọc Dũng ( 1992 – 2003 )

Tổ chức Công đoàn trường: Ông Tô Thế Thợi làm Chủ tịch (1986-1989) và

( 1993 – 1999 ), ông Phan Bá Thúy ( 1989 – 1992 ), ông Nguyễn Văn Soạn

( Từ 1999 – 2003 )

Tổ chức Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trường: Bí thư ông Lê Minh Hường (1983 - 1986), ông Hoàng Anh Dũng (1986 - 1995)

Ban Giám hiệu:

- Các Hiệu trưởng: PGS.TS. Phạm Khắc Học (từ 1985 đến 2000), Đào Ngọc Dũng (từ năm 2000 )

- Các Phó Hiệu trưởng gồm có:

Ông: Đỗ Hữu Gi           (1985 - 1986)

          Ông: Trần Văn Nghĩa    (1985 - 1994)

          Ông: Đào Ngọc Dũng    (1985 - 1999)

          Ông: Phạm Đông Anh   (1999 - 2003)

          Ông: Nguyễn Hữu Bằng (1999 - 2003)

Các phòng chức năng:

- Phòng Tổ chức Hành chính (từ 1986 - 1998) sau đổi tên là phòng Tổ chức cán bộ, công tác chính trị (1999).

Các trưởng phòng: Ông Nguyễn Hữu Bằng          (1986 - 1999)

                             Ông Nguyễn Văn Học    (từ 1999 )

Các phó trưởng phòng:

                             Ông Bùi Quý Sỹ            (1986 - 1995)

                             Ông Hoàng Anh Dũng   (từ 1995)

- Phòng Giáo vụ (1986 - 1998) sau đổi là Phòng Đào tạo (1999)

Các trưởng phòng: Ông Phạm Văn Nam (1985 - 1993)

                             Ông Lê Gia Tường (1993 -  2000)

                             Ông Phạm Xuân Thành (2001 - 2005)

Các phó trưởng phòng:

Ông Lê Gia Tường (1985 - 1992)

                             Ông Nguyễn Văn Thời (từ 1993)

Ông Phạm Xuân Thành (từ 2000 -  2001)

- Phòng Quản trị đời sống (1986 - 1999) sau đổi là phòng Hành chính Quản trị Thiết bị (năm 2003)

Các trưởng phòng:         Ông Nguyễn Tự Do (1986 - 2000)

                             Ông Lê Minh Hường ( từ 2000)

Phó trưởng phòng:         Ông Nguyễn Đình Sơn (từ 1985)

- Tổ Tài vụ (từ 1985 -1986) sau đổi tên là phòng Tài vụ (1986 - 1994). Từ 1995 đổi tên là phòng Kế hoạch Tài chính.

Các trưởng phòng:        

Ông Ngô Mạnh Linh (1986 - 1993)

                             Ông Vũ Ngọc Tuấn (từ 1993)

-   Phòng quản lý khoa học ( ……)

Trưởng phòng: TS. Vũ Thị Thanh Bình

Các đơn vị khoa, bộ môn:

Thời kỳ đầu có 02 khoa:

Khoa Bộ môn chung bao gồm: Tổ Tâm lý giáo dục, Tổ Mác - Lênin (tổ Chính trị Mác Lênin), tổ Ngoại ngữ, tổ Y Sinh do TS.Nguyễn Mậu Loan làm Chủ nhiệm khoa.

Khoa các môn Bóng bao gồm:  Bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn, bóng rổ do ông Phạm Đông Anh làm Chủ nhiệm khoa.

Có các bộ môn:

Bộ môn: Thể dục, bà Trần Thu Hậu làm Chủ nhiệm Bộ môn, sau đó là ông Phạm Nguyên Phùng.

Bộ môn Điền kinh ông Đoàn Quốc Tế, làm Chủ nhiệm Bộ môn.

Bộ môn Quân sự - Nghệ thuật gồm: Tổ Quân sự, tổ Bơi, Cờ, Trò chơi, Nghệ thuật: Chủ nhiệm Bộ môn Trung tá Nguyễn Ngọc Hiệp .

Để phù hợp với tình hình thực tế và nâng cao hiệu quả quản lý chuyên môn. Cơ cấu tổ chức  bộ máy của Nhà trường thời ký về sau có một số thay đổi.

Khoa bộ môn chung được tách thành các bộ môn riêng gồm:

Bộ môn Nghiệp vụ sư phạm ông TS. Nguyễn Mậu Loan làm Trưởng bộ môn, sau là bà ThS. Hoàng Thị Đông

Bộ môn Chính trị Mác Lênin bà Lê Thị Đảm làm Trưởng bộ môn, sau là bà Đặng Thị Hạnh.

Bộ môn Y sinh: Chủ nhiệm Bộ môn ông Nguyễn Khắc Khoái, sau là ông Nguyễn Văn Binh, rồi đến TS. Vũ Thị Thanh Bình.

Bộ môn Ngoại ngữ: Chủ nhiệm Bộ môn ông Trần Vũ Hưng, sau là ông Chu Sỹ Huy.

Khoa các môn Bóng được tách thành các bộ môn:

Bộ môn Bóng đá: Trưởng bộ môn ông Phạm Đông Anh, sau là ông Trần Hữu Truyền.

Bộ môn Bóng chuyền - Bóng bàn - Bóng rổ: Trưởng bộ môn ông Tô Thế Thợi, sau là ông Nguyễn Văn Soại.

Đến năm 1994 Bộ Giáo dục có Quyết định số: 2647/QĐ ngày 14/9/1994 thành lập Trung tâm Giáo dục Quốc phòng Hà Nội I trực thuộc trường CĐSP Thể dục Trung ương số I do PGS.TS Phạm Khắc Học - Hiệu trưởng, làm Giám đốc; Thượng tá Nguyễn Ngọc Hiệp, làm Phó Giám đốc.

Từ đó bộ môn Quân sự - Nghệ thuật được tổ chức lại: Tổ Bơi - Cờ - Trò chơi thành Bộ môn Bơi - Cờ - Trò chơi: Ông Nguyễn Hữu Thái làm Trưởng Bộ môn. Tổ Đoàn đội nghệ thuật thành Bộ môn Đoàn đội - Nghệ thuật: Bà Trần Thị Thu Khoa, làm Trưởng bộ môn.

Ban chủ nhiệm sinh viên: Trưởng ban: NGUT. Nguyễn Hữu Bằng

Đội ngũ CBGV - CNV

- Thời kỳ đầu thành lập trường CĐSP Thể dục Trung ương số I.

Tổng số CBGV, CNV có 75 người. Đến năm 2003 có 107 người. Trong đó CB, CNV khối hành chính, phục vụ có 38 người .

Giảng viên có: 69 người.

Trình độ chuyên môn nghiệp vụ đội ngũ giảng viên: Tiến sỹ: 03; thạc sỹ: 36; đại học : 30

Số giảng viên dạy thực hành TDTT được tuyển chọn từ trường Đại học TDTT Từ Sơn - Bắc Ninh, số còn lại chủ yếu là sinh viên giỏi của Trường được giữ lại từ khoá 4, 6, 7, 9, 12 …

Công tác đào tạo

- Quy mô tuyển sinh đào tạo hàng năm đều tăng, từ chỗ những năm đầu chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo chỉ có từ 150 đến 200, những năm sau số lượng tuyển sinh đào tạo càng phát triển lên tới 300 - 350.

Ngoài chỉ tiêu đào tạo hệ chính quy, Nhà trường còn mở rộng loại hình liên kết đào tạo cho các địa phương.

Kết quả tuyển sinh đào tạo từ năm 1986 đến 2003.

Hệ cao đẳng chính quy tổng số: 3781

Năm

1986

1987

1988

1989

1990

1991

1992

1993

1994

1995

 

Số lượng

 

104

 

103

 

123

 

80

 

102

 

132

 

125

 

95

 

239

 

293

 

Năm

1996

1997

1998

1999

2000

2001

2002

2003

Số lượng

160

342

287

298

323

315

320

340

Liên kết đào tạo: Cho các địa phương. Tổng số: 157 sinh viên.

Công tác nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế

Công tác NCKH:

Trong 5 năm đầu, kể từ khi tách từ trường chung thành trường Cao đẳng Sư phạm Thể dục Trung ương số I, công tác nghiên cứu khoa học còn rất khó khăn bởi những lý do: Trình độ đội ngũ cán bộ giảng viên chiếm tỷ lệ trên 50 % ở trình độ cao đẳng, chuyên tu, tại chức. Nhà trường tập trung cho công tác xây dựng ổn định chương trình, kế hoạch đào tạo, biên soạn giáo trình tài liệu, quy hoạch về cơ sở vật chất, trang thiết bị, chưa thành lập phòng Quản lý khoa học…

Sau khi có Hội đồng khoa học của trường và Phòng Quản lý khoa học được thành lập do TS. Vũ Thị Thanh Bình Chủ nhiệm bộ môn Y Sinh, kiêm Trưởng phòng Quản lý khoa học từ đây công tác nghiên cứu khoa học được chú trọng và từng bước được đẩy mạnh.

Kết quả đến hết năm 2003 đã có: 37 công trình nghiên cứu khoa học, trong đó có 1 đề tài cấp Nhà nước, 3 đề tài cấp Bộ, 33 đề tài cấp trường và 11 khóa luận tốt nghiệp của sinh viên.

Hội nghị duyệt kế hoạch nghiên cứu khoa học

Hợp tác quốc tế:

Sau 3 năm thành lập, để mở rộng sự phát triển Nhà trường trong tương lai. Năm 1998 Nhà trường đã cử đoàn cán bộ lãnh đạo do Hiệu trưởng PGS.TS. Phạm Khắc Học cùng PGS.TS. Nguyễn Trung Hiếu - Hiệu trưởng trường CĐ Sư phạm Thể dục Trung ương số II (Tp. Hồ Chí Minh), PGS.TS.Vũ Đức Thu, Q.Vụ trưởng Vụ GDTC (Bộ Giáo dục và Đào tạo), TS. Phạm Xuân Thành  đã có chuyến công tác khảo sát tại Trung Quốc và đã ký văn bản hợp tác đào tạo với trường Đại học sư phạm Quảng Tây Trung Quốc đặt nền móng cho sự mở rộng hợp tác đào tạo với nước ngoài của Nhà trường sau này. Kể từ đó, từ năm 1999 đến năm 2009, Nhà trường được Bộ Giáo dục  và Đào tạo giao hàng năm tổ chức từ 1 đến 2 đoàn CBGV TDTT của trường và các trường ĐH, CĐ, HV trong toàn quốc sang học tập các lớp bồi dưỡng ngắn hạn về GDTC tại Trung Quốc. Tổng số được trên 400 lượt  CBGV.

Cơ sở vật chất:

Sau khi thành lập trường CĐSP Thể dục Trung ương số I (trên cơ sở Khoa Sư phạm Thể dục củaTrường CĐSP Thể dục - Nhạc - Hoạ Trung ương). Địa điểm của nhà trường vẫn ở trên địa bàn xã Phụng Châu, huyện Hoài Đức, Hà Nội (đến năm 1994 xã Phụng Châu, cắt chuyển về huyện Chương Mỹ, Hà Tây) với tổng diện tích ban đầu là 24 ha.

Nằm trên khuôn viên chung của nhiều cơ quan, đơn vị như Binh đoàn 12 và một số nhà dân ở xen kẽ. Do diện tích rộng, nằm rải rác, không tập trung, không có ranh giới, không có rào chắn, không có kinh phí quy hoạch xây dựng, quy mô đào tạo còn ít, quản lý đất đai chưa chặt chẽ, dẫn đến một số nhà dân địa phương ở xung quanh đã mở rộng lấn chiếm. Vị trí đất ở bên ngoài trường có 8,6 ha chưa sử dụng đến theo Quyết định số: 2301/UBND ngày 10/5/1990 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội về việc thu hồi 8,6 ha của trường Cao đẳng Sư phạm thể dục Trung ương số I chưa sử dụng đến tạm thời bàn giao cho địa phương sử dụng.

Kể từ năm 2001 diện tích Nhà trường sử dụng chính thức còn 14,3 ha.

Những năm đầu cơ sở vật chất rất đơn sơ, thiếu thốn. Nhà làm việc, giảng đường chỉ có 03 nhà cấp 4, một nhà gồm 5 phòng để Ban Giám hiệu, các phòng ban làm việc, hai nhà cấp 4 có 10 phòng học dùng để làm giảng đường, sân bãi tập luyện các môn TDTT (bóng đá, bóng chuyền, bóng rổ, sân điền kinh, thể dục) là sân đất, không đủ quy cách, giờ học môn bơi lội phải học ở một khúc sông của dòng sông Đáy rất nguy hiểm.

Nhà ở của CBGV, SV hầu hết là tranh tre, lợp giấy dầu. Điện nước rất khan hiếm. Nước sinh hoạt chủ yếu là nguồn nước dòng sông Đáy. Khuôn viên Nhà trường không có hàng rào bao quanh bảo vệ, do vậy công tác an ninh trật tự không đảm bảo. trâu, bò của dân chăn thả trong khu vực trường.

Đến năm 1990 được sự quan tâm của Nhà nước, của Bộ Giáo dục đã đầu tư kinh phí để cải tạo nâng cấp 3 nhà cấp 4 cũ thành 02 tầng để làm nơi làm việc và giảng đường. Từng bước hệ thống cơ sở vật chất được đầu tư tăng cường như: đã xây dựng nhà tập thể dục, cải tạo sân điền kinh, sân bóng đá, sân bóng chuyền, bóng rổ... xây dựng nhà ở kiến cố cao tầng khép kín ký túc xá nhà ở cho sinh viên, xây mới giảng đường 4 tầng, nhà thư viện, nhà ăn tập thể cho sinh viên, nhà câu lạc bộ sinh viên, nhà làm việc cho các bộ môn và nhà ở công vụ cấp 4 cho CBGV.

III. Giai đoạn đào tạo trình độ đại học (từ 2003 đến nay)

 

Con dấu của Trường và chữ ký của

Hiệu trưởng Đào Ngọc Dũng

Hiệu trưởng NGUT  Đào Ngọc Dũng

 

 1. Thời kỳ: Trường Đại học Sư phạm Thể dục Thể thao Hà Tây (2003 - 2007)

Sau hơn 15 năm kể từ khi trường Cao đẳng Sư phạm Thể dục Trung ương số I thành lập (1985), xuất phát từ tình hình thực tế của xã hội, đất nước, để tồn tại ổn định phát triển lâu dài của nhà trường, Đảng ủy- Ban Giám hiệu đã xác định phải huy động mọi nguồn lực, trí tuệ, nhân tài, công sức của đội ngũ CBGV, CNV, SV nỗ lực quyết tâm phấn đấu, đề nghị nâng cấp thành trường đại học. Chính vì vậy sau 5 năm tích cực chuẩn bị về mọi mặt như: về tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ, chương trình, kế hoạch mục tiêu đào tạo, biên soạn giáo trình giảng dạy, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị… làm Đề án đề nghị nâng cấp từ trường cao đẳng lên đại học. Ngày 10 tháng 2 năm 2003 Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Gia Khiêm cùng lãnh đạo Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch, cùng lãnh đạo các Bộ ngành có liên quan về kiểm tra, phê duyệt đề án nâng cấp thành trường đại học.

 Tin vui đã đến với lãnh đạo, tập thể CBGV, CNV, SV của Nhà trường, ngày 05/5/2003 tại Quyết định số: 83/QĐ -TTg của Chính phủ đã ký quyết định thành lập trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Tây. Đây là dấu mốc, bước ngoặt lịch sử quan trọng của nhà trường sau hơn 40 năm hình thành và phát triển từ trường trung cấp, cao đẳng chuyên ngành sư phạm Giáo dục thể chất được nâng cấp thành trường Đại học Sư phạm TDTT đầu tiên của cả nước.

Bộ máy tổ chức

Chính quyền: Ban Giám hiệu thời kỳ đầu có 3 đồng chí, giai đoạn 2 năm cuối bổ nhiệm thêm 2 phó hiệu trưởng; 5 phòng ban; 11 bộ môn; 1 Trung tâm Giáo dục Quốc phòng Hà Nội; 1 Trạm y tế; 1 Ban chủ nhiệm sinh viên

Đảng bộ: Ban chấp hành có 5 đồng chí. Trong Đảng bộ có 4 chi bộ trực thuộc (gồm Chi bộ Hành chính, Chi bộ  Giáo viên, Chi bộ  Trung tâm và Chi bộ  sinh viên).

Tổ chức Công đoàn trường: Ban chấp hành gồm 7 đồng chí. Có 3 Công đoàn bộ phận cơ sở trực thuộc  (Công đoàn bộ phận hành chính, Công đoàn bộ phận giáo viên, Công đoàn bộ phận Trung tâm).

Tổ chức Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh trường: Ban chấp hành gồm 21 đồng chí; trong đó thường vụ có 5 đồng chí. Có 4 Liên chi và 95 chi đoàn trực thuộc

Các đơn vị chức năng:

Các phòng:

Phòng Tổ chức cán bộ - Công tác chính trị: Trưởng phòng: Ông Nguyễn Văn Học, Phó trưởng phòng ThS. Hoàng Anh Dũng.

Phòng Đào tạo Trưởng phòng: TS.Phạm Xuân Thành, Phó trưởng phòng ThS. Nguyễn Văn Thời, ThS. Bùi Minh Thành (2007); ThS. Nguyễn Duy Quyết.

Phòng quản lý khoa học: Trưởng phòng TS. Vũ Thị Thanh Bình, sau là TS. Kiều Tất Vinh, Phó trưởng phòng ThS. Bùi Minh Thành (2006), ThS. Đỗ Anh Tuấn (2007) .

Phòng Hành chính Quản trị - Thiết bị: Trưởng phòng: ThS.Lê Minh Hường, Phó trưởng phòng ông Nguyễn Đình Sơn.

Phòng Kế hoạch tài chính: Trưởng phòng: Ông Vũ Ngọc Tuấn.

Các Bộ môn:  

Bóng chuyền - Bóng đá - Bóng rổ - Bóng ném: Trưởng bộ môn ông Nguyễn Văn Soạn Trưởng bộ môn, sau là ThS. Đặng Hùng Mạnh.

Cầu lông - Bóng Bàn - Quần vợt: Trưởng bộ môn ThS. Hướng Xuân Nguyên .

Võ - Bơi - Cờ, Trưởng bộ môn: Trưởng bộ môn ThS. Nguyễn Hữu Thái, sau là ThS. Mai Tú Nam.

Điền Kinh: Trưởng bộ môn ThS. Bùi Văn Ca.

Thể Dục: Trưởng bộ môn ông Phạm Nguyên Phùng, sau là ThS. Trần Tuyết Lan.

Lý luận Mác - Lênin  và Tư tưởng Hồ Chí Minhh: Trưởng bộ môn ThS. Đặng Thị Hạnh.

Y Sinh Trưởng bộ môn: TS. Vũ Thị Thanh Bình, sau là ThS. Nông Thị Hồng

Nghiệp vụ sư phạm: Trưởng bộ môn ThS. Hoàng Thị Đông

Ngoại ngữ: Trưởng bộ môn bà Mai Thanh Hằng

Đoàn đội Nghệ thuật: Trưởng bộ môn bà Trần Thu Khoa

Toán tin: Trưởng bộ môn TS. Lê Thanh

Trung tâm GDQP Hà Nội 1:

Ông Đào Ngọc Dũng, Hiệu trưởng - Giám đốc

Đại tá Nguyễn Ngọc Hiệp Phó Giám đốc

Trạm Y tế: Trạm trưởng BS. Hoàng Hữu Phúc

Ban chủ nhiệm sinh viên: Trưởng ban ThS. Nguyễn Văn Thời.

Đội ngũ cán bộ viên chức:

Ngay sau khi được nâng cấp thành trường Đại học sư phạm TDTT Hà Tây (nay là Hà Nội), Đảng ủy Ban Giám hiệu đã có nghị quyết chỉ đạo đề ra phương hướng, kế hoạch phát triển trường trong giai đoạn 2004 - 2010, trong đó có công tác tổ chức bộ máy và đội ngũ CBGV. Vì vậy công tác này đã có nhiều thay đổi đáng kể. Hàng năm Nhà trường đã cử hàng chục lượt CBGV đi học tập nâng cao trình độ, chuyên môn, lý luận chính trị ở cả trong và ngoài nước.

Từ chỗ đội ngũ CBGV trước khi nâng cấp lên thành trường đại học, Nhà trường chỉ có 107 CBVC, đến hết năm 2007 tổng số CBVC đã tăng lên tới 145 người. Trong đó giảng viên: 90  trình độ: TS:1, ThS: 44, ĐH: 45, GV chính: 15, NCS: 4

Quy mô đào tạo:

Năm học 2003 - 2004 là năm học đầu tiên trường được mang tên trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Tây (nay là Hà Nội). Vì có quyết định nâng cấp trường từ tháng 5/2003, do vậy chỉ tiêu tuyển sinh ban đầu được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao cho năm học 2003 -2004 đào tạo hệ có đẳng và liên kết, vừa học vừa làm. Nhà trường báo cáo xin Bộ Giáo dục và Đào tạo bổ sung cho tuyển sinh đào tạo khóa đầu tiên của hệ đại học được 76 chỉ tiêu. Kể từ năm học 2004 - 2005, Nhà trường được giao chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo mỗi khóa từ 500 - 700 chỉ tiêu cho các hệ:

Đại học chính quy - liên thông - tại chức.

Cao đẳng chính quy - tại chức - liên kết đào tạo.

Tổng số tuyển sinh đào tạo  từ 2003 - 2007 như sau:

TT

Trình độ đào tạo

Loại hình đào tạo

Hệ đào tạo

Số lượng các năm

2003

2004

2005

2006

2007

1

Đào tạo tạo trình độ đại học hệ chính quy

67

180

310

400

450

2

Đào tạo trình độ hệ cao đẳng

310

240

194

170

70

3

Đào tạo trình độ đại học hệ liên thông

 

 

 

65

 

4

Đào tạo trình độ đại học hệ VHVL

 

215

350

450

525

5

Đào tạo trình độ đại học, cao đẳng liên kết với các tỉnh thành

 

 

152

 

205

 

673

 

796

Công tác NCKH và hợp tác quốc tế

Kết quả các công trình nghiên cứu khoa học.

 Tổng số đề tài nghiên cứu khoa học có 52 đề tài. Trong đó đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: 6, cấp trường: 46; khóa luận tốt nghiệp sinh viên: 146

Hợp tác quốc tế:

Tiếp tục duy trì mở rộng về quan hệ hợp tác quốc tế

Đã tổ chức được: 4 đoàn cán bộ giảng viên của trường và các trường đại học, cao đẳng, học viên của toàn quốc sang Trung Quốc học tập các lớp bồi dưỡng ngắn hạn về TDTT được trên 80 học viên.

Đã tiếp đón 4 đoàn cán bộ lãnh đạo nước ngoài đến thăm và làm việc với trường về hợp tác giao lưu văn hóa, giáo dục đào tạo.

Cơ sở vật chất:

Được sự quan tâm đầu tư của Đảng, Nhà nước, của Bộ Giáo dục và Đào tạo, của các cấp các ngành, cùng với sự lãnh đạo chỉ đạo của Đảng ủy - Ban Giám hiệu, sự đoàn kết nhất trí ủng hộ của các tổ chức đoàn thể, của tập thể CBGV, SV, chỉ tính trong 5 năm kể từ khi được nâng cấp thành trường đại học, Nhà trường đã có quy hoạch tổng thể, xây dựng phát triển bền vững, lâu dài hiệu quả, từng bước hiện đại về xây dựng mua sắm cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác dạy và học.

Cụ thể như, xây mới nhà thi đấu đa năng, khởi công xây dựng nhà làm việc, giảng đường 3 - 4 tầng của Trung tâm GDQP, nhà GDTC, xây bể bơi, cải tạo nâng cấp 1 số nhà ký túc xá, nhà ăn tập thể cho cán bộ, giảng viên, nhà ở cộng vụ cho cán bộ, sỹ quan Trung tâm, sân bóng chuyền, sân quần vợt, sân bóng rổ… được phủ chất liệu nhựa tổng hợp, xây cống, tường bao xung quanh trường, hệ thống đường đi, đổ bê tông khang trang sạch đẹp; trang thiết bị mua sắm đầy đủ máy móc, phương tiện thiết bị phục vụ công tác giảng dạy học tập đáp ứng hiệu quả; xây dựng đề án xin thêm 12 ha đất để mở rộng phát triển trường

Công tác tài chính:

Quản lý chặt chẽ thu chi đúng mục đích quy định. Tích cực chủ động khai thác các nguồn vốn khác để cải thiện tăng thêm đời sống cho CBVC và SV ủng hộ các quỹ từ thiện khác

2.Thời kỳ: Trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội (2008 - nay)

Con dấu của trường và chữ ký của

Hiệu trưởng Phạm Xuân Thành

TS. Phạm Xuân Thành Hiệu trưởng

Tại Quyết định số: 1647/QĐ - TTg ngày14/11/2008 của  Thủ tướng Chính phủ về việc đổi tên Trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Tây thành trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội.

Bộ máy tổ chức:

Ban Giám hiệu

Ban Giám hiệu có 3 đồng chí (gồm 1 hiệu trưởng, 2 phó hiệu trưởng); Có 8 phòng chức năng; 13 bộ môn; 1 khoa đào tạo tạo tại chức và sau đại học; 1 Trung tâm Giáo dục Quốc phòng Hà Nội 1; 1 Trạm y tế.

Đội ngũ CBVC:

Tổng số CBVC: Từ 155 người đến tháng 10/2011 đã có 216 người.

Trình độ đội ngũ GV có: Giáo sư 1; TS: 4, ThS: 60, ĐH: 53, đang làm NCS, ThS học chuyên ngành TDTT ở trong và ngoài nước: 45 người, GV chính và tương đương: 26 người, có nhiều CBGV là trọng tài cấp quốc gia, cấp quốc tế.

Trình độ lý luận chính trị:

Cao cấp: 05 người, hiện đang theo học 3 người.

Trung cấp: 12 người.

Đào tạo, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế.

                        Công tác đào tạo:

TT

Trình độ đào tạo

Loại hình đào tạo

Hệ đào tạo

Số lượng các năm

2008

2009

2010

2011

1

Đại học hệ chính quy

561

690

620

570

2

Cao đẳng chính quy

50

104

107

146

3

Đại học hệ liên thông

145

118

206

130

4

 

Đại học hệ VHVL

Đào tạo trình độ đại học, cao đẳng liên kết với các tỉnh thành

705

855

690

426

 

Tổng cộng

1.461

1.767

1.625

1.308

 

Ngoài ra từ năm 2009 - 2011 đã liên kết với trường Đại học TDTT Bắc Ninh mở 3 lớp đào tạo trình độ sau đại học với tổng số 64 học viên

Chương trình, kế hoạch đào tạo của nhà trường được ổn định, đã biên soạn đầy đủ giáo trình giảng dạy, tài liệu học tập,  tổ chức quản lý đào tạo và cấp phát bằng chứng chỉ chặt chẽ, tổ chức thi kiểm tra đánh giá kết quả học tập đúng quy chế, quy mô đào tạo ngày một phát triển.

Công tác nghiên cứu khoa học:

Để nâng cao chất lượng của nghiên cứu khoa học, nhà trường đã có những biện pháp khuyến khích cán bộ, giảng viên làm nghiên cứu khoa học, viết sáng kiến cải tiến kinh nghiệm trong giảng dạy, công tác. Trong đó có nhiều đề tài và sáng kiến kinh nghiệm được áp dụng và có giá trị thực tiễn cao.

Trong 4 năm (2008 - 2011) tổng số đã có 102 đè tài, công trình nghiên cứu khoa học. Trong đó đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ có: 13 đề tài, trong đó có 1 đề tài trọng điểm.

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường có : 98 đề tài.

Khóa luận tốt nghiệp sinh viên có: 309 đề tài. Có 3 đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên tham gia Hội thảo nghiên cứu khoa học toàn quốc đạt giải khuyến khích, 1 đề tài đạt giải 3.

Hợp tác quốc tế:

Tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế liên kết đào tạo với 4 đơn vị ở nước ngoài. Đã cử 6 cán bộ giảng viên sang học một số môn chuyên ngành TDTT tại trường TDTT Nam Ninh Trung Quốc. Và 12 giảng viên đi học thạc sỹ, nghiên cứu sinh tại Trung Quốc. Cử nhiều đoàn cán bộ, lãnh đạo ra nước ngoài để khảo sát hợp tác, giao lưu trao đổi kinh nghiệm, nghiên cứu khoa học.

Mời chuyên gia Trung Quốc sang giảng dạy.

Cử cán đoàn cán bộ sang nước bạn Lào để giúp bạn xây dựng chương trình kế hoạch đào tạo từ cao đẳng lên đại học sư phạm TDTT.

Đã đón tiếp 5 đoàn cán bộ lãnh đạo nước ngoài đến thăm và làm việc.

Tài chính, cơ sở vật chất

Cơ sở vật chất:

Hoàn thiện giai đoạn cuối đưa vào sử dụng: Nhà làm việc 3 tầng và  giảng đường TTGDQP Hà Nội I

Xây mới nhà ở công vụ cho cán bộ, sỹ quan trung tâm; trạm y tế 3 tầng; Xây mới 3 nhà 4 tầng KTX sinh viên và cải tạo nâng cấp 2 nhà KTX SV; Cải tạo nâng cấp sân điền kinh phủ chất dẻo nhựa tổng hợp và sân bóng đá trải cỏ nhân tạo. Hệ thống sân bãi đẹp, chất lượng, đủ quy cách, tiêu chuẩn quy định; đầu tư cải tạo hệ thống điện nước; mua sắm trang thiết bị máy móc, phương tiện đầy đủ để phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập, sinh hoạt đáp ứng hiệu quả. Tiếp tục làm hồ sơ thủ tục xin thêm 12 ha đất để mở rộng phát triển trường, xin kinh phí để xây mới nhà điều hành làm việc 9 tầng…

Công tác tài chính:

Quản lý chặt chẽ nguồn thu chi đúng mục đích, hiệu quả, tiết kiệm. Tích cực chủ động khai thác các nguồn vốn khác hợp pháp theo quy định để tăng thêm nguồn quỹ tự có nhằm cải thiện nâng cao đời sống CBVC, SV bớt phần khó khăn và tổ chức cho CBVC đi thăm quan, nghỉ mát, tiền quà các ngày lễ để động viên CBVC yên tâm phấn khởi công tác.

Nguồn vốn được cấp cho xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị…đảm bảo chất lượng , hiệu quả sử dụng.

*

* *

TỔ CHỨC ĐẢNG VÀ ĐOÀN THỂ

ĐẢNG BỘ NHIỆM KỲ VIII (2006- nay)

 BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG ỦY

TT

Họ và tên

1

Nguyễn Văn Thời - Bí thư Đảng ủy

2

Phạm Xuân Thành - Phó Bí thư Đảng ủy

3

Nguyễn Ngọc Hiệp - Đảng ủy viên

4

Hoàng Anh Dũng - Đảng ủy viên

5

Nguyễn Duy Quyết - Đảng ủy viên

Trong Đảng bộ có 4 chi bộ trực thuộc (Gồm Chi bộ Hành chính, Chi bộ Giáo viên, Chi bộ Trung tâm, Chi bộ sinh viên)

Tổ chức Lễ trao  tặng Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng cho 3 đảng viên và đang làm thủ tục đề nghị trao tặng Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng cho 2 đảng viên.

BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN TRƯỜNG (NHIỆM KỲ 2011 - 2013)

TT

Họ và tên

1

Đặng Hùng Mạnh

2

 Vũ Hải Hành

3

Trần Thị Thu Khoa

4

Nguyễn Thị Chính

5

  Lê Học Liêm

6

Vũ Thị Huyễn

7

Đỗ Đức Thuận

 

Tổ chức công đoàn: Tổng số có 216 đoàn viên lao động sinh hoạt tại 3 tổ chức Công đoàn bộ phận cơ sở (Công đoàn bộ phận hành chính, Công đoàn bộ phận giáo viên, Công đoàn bộ phận trung tâm).

 

ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG

BAN THƯỜNG VỤ ĐOÀN TRƯỜNG NHIỆM KỲ 2010 - 2012

1. PHẠM QUỐC TOẢN - BÍ THƯ

2. TRẦN THỊ THU TRANG - PHÓ BÍ THƯ

3. PHÙNG XUÂN DŨNG -  PHÓ BÍ THƯ

ỦY BAN KIỂM TRA

1. HOÀNG MINH THỦY

2. NGUYỄN THU NGA

Tổng số có: 4 Liên chi và 105 chi đoàn cơ sở với tổng số đoàn viên trên 3000 đoàn viên thanh niên.

 

*

* *

THÀNH TÍCH KHEN THƯỞNG VÀ CÁC DANH HIỆU CAO QUÝ CHO CÁC TẬP THỂ VÀ CÁ NHÂN NHÀ TRƯỜNG

 

 

1. Tập thể Nhà trường :

-         Huân chương Lao động hạng Ba ( năm 1996 )

-         Huân chương Lao động hạng Nhì ( năm 2001 )

-         Huân chương Lao động hạng Nhất ( năm 2006 )

-         Huân chương bảo vệ Tổ quốc hạng Ba ( năm 2005 )

-         Huân chương bảo vê Tổ quốc hạng Nhì ( năm 2010 )

-         Đanh hiệu “Đơn vị văn hóa”

 2.  Đảng bộ và các chi bộ:

 Luôn được công nhận là “Đảng bộ, chi bộ trong sạch vững mạnh”

3. Công đoàn trường:

Huân chương Lao động hạng Ba ( năm 2001 )

Huân chương Lao động hạng Nhì ( năm 2011 )

Tổng Liên đoàn Lao động tặng Cờ thưởng thưởng đơn vị tiên tiến xuất sắc

Được tặng nhiều Bằng khen của Tổng liên đoàn, Bộ, Giáo dục  và Đào tạo, Công đoàn Giáo dục Việt Nam cho các tập thể và cá nhân.

4. Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trường:

Cờ thi đua:

- Năm 2003 được Trung ương Đoàn tặng cờ thi đua: “Đơn vị 3 năm liền dẫn đầu phong trào thi đua cấp tỉnh công tác đoàn và phong trào thanh niên khối đại học, cao đẳng 3 năm liên tục 2000-2003.

- Năm 2003 Thành Đoàn Hà Nội tặng cờ thi đua: “Đơn vị thi đua xuất sắc công tác đoàn và phong trào TN khối ĐH, CĐ 3 năm liên tục 2001 - 2003.

- Năm 2007 được Thành Đoàn Hà Nội tặng cờ thi đua: “Đơn vị thi đua xuất sắc công tác đoàn và phong trào thanh niên khối đại học, cao đẳng 3 năm liên tục 2004 - 2007.

Bằng khen: Được Trung ương đoàn, Thành đoàn Hà Nội, UBND thành phố Hà Nội tặng nhiều Bằng khen về hoạt động của tổ chức Đoàn

 5. Các cá nhân được phong tặng danh hiệu cao quý:

Danh hiệu liệt sĩ: Cô giáo: Lê Thị Bạch Cát Nguyên giáo viên khóa 1 (1961-1963)

 Huân chương lao động hạng Ba:

1. PGS.TS.NGƯT: Phạm Khắc Học

2. NGƯT: Đào Ngọc Dũng

Danh hiệu Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú:

1. PGS.TS.NGND Vũ Đức Thu

2. NGUT. Đỗ Hữu Gi

3. NGUT. Lê Gia Tường

4. NGUT. TS. Nguyễn Mậu Loan

5. PGS.TS. NGUT. Phạm Khắc Học

6. NGUT. Đào Ngọc Dũng

7 NGUT. Phạm Đông Anh

8. NGUT. Nguyễn Hữu Bằng

Và nhiều đơn vị tập thể, cán bộ, giảng viên được Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, của các bộ, ngành, được tặng huân huy chương, kỷ niệm chương các loại